Cách tính ngũ cách từ họ tên: hướng dẫn từng bước kèm ví dụ cụ thể
Cách tính ngũ cách thực chất chỉ là năm phép cộng. Cái khó không nằm ở phép toán, mà ở hai việc trước đó: chọn đúng chữ Hán cho từng chữ trong tên, và lấy đúng số nét của chữ đó.
Bài này đi qua đủ cả ba phần. Công thức năm cách cho tên ba chữ, một ví dụ chạy trọn từng bước với tên Nguyễn Văn An, rồi các trường hợp tên hai chữ, bốn chữ và họ kép.
Nếu bạn chưa rõ ngũ cách là gì, nên đọc trước bài ngũ cách là gì và hiểu đúng Thiên – Nhân – Địa – Ngoại – Tổng cách trong tên gọi. Còn nếu bạn đã biết và chỉ cần công thức, đọc tiếp là đủ.
Chuẩn bị: quy đổi họ tên sang chữ Hán và lấy số nét
Trước khi cộng được gì, bạn cần một danh sách: mỗi chữ trong họ tên đi kèm một chữ Hán và một con số nét.
Bước quy đổi chữ Hán
Tên tiếng Việt viết bằng chữ Quốc ngữ, và chữ Quốc ngữ không có số nét. Vì vậy phải quy đổi từng âm sang chữ Hán – Nôm tương ứng trước.
Điểm cần nói thẳng: một âm tiếng Việt thường ứng với nhiều chữ Hán khác nhau. Âm “Minh” có thể là 明 (sáng) hoặc 銘 (khắc ghi). Âm “Hà” có thể là 河 (sông) hoặc 霞 (ráng chiều). Số nét khác nhau thì ngũ cách ra khác nhau.
Nghĩa là bước quy đổi mang tính lựa chọn, không phải một phép tra một-đối-một. Đây chính là lý do hai trang web cho bạn hai kết quả khác nhau cho cùng một cái tên. Nguyên tắc chọn hợp lý:
- Chọn chữ Hán đúng với nghĩa mà cha mẹ muốn gửi gắm, không chọn theo số nét đẹp.
- Với họ thì dễ hơn nhiều, vì mỗi họ Việt hầu như chỉ có một chữ Hán quen dùng: Nguyễn là 阮, Trần là 陳, Lê là 黎, Phạm là 范.
- Ghi lại lựa chọn của bạn. Lần sau tra lại phải ra đúng chữ đó, nếu không kết quả sẽ nhảy.
Bước lấy số nét
Số nét dùng trong ngũ cách là số nét Khang Hy, tức số nét theo Khang Hy tự điển, chứ không phải số nét bạn đếm khi nhìn chữ viết hiện đại. Khác biệt nằm ở các bộ thủ viết rút gọn, vốn được tính theo dạng gốc: 氵 tính 4 nét như 水, 扌 tính 4 nét như 手, 艹 tính 6 nét như 艸.
Ngoài ra luôn dùng chữ phồn thể, không dùng giản thể. Sai ở khâu này là cả năm con số sai theo, nên nếu bạn chưa nắm chắc thì đọc số nét Khang Hy là gì và vì sao không được đếm nét theo chữ viết ngày nay trước khi cộng bất cứ thứ gì.
Công thức năm cách khi tên có 3 chữ
Tên ba chữ là dạng phổ biến nhất ở Việt Nam: một chữ họ, một chữ đệm, một chữ tên. Gọi số nét của họ là H, của chữ đệm là Đ, của chữ tên là T.
Năm công thức như sau:
- Thiên cách = số nét phần họ, cộng 1 nếu họ chỉ có một chữ. Với tên ba chữ họ đơn: H + 1.
- Nhân cách = số nét chữ cuối của họ cộng số nét chữ đầu của tên: H + Đ.
- Địa cách = tổng số nét phần tên, cộng 1 nếu tên chỉ có một chữ. Ở đây phần tên có hai chữ nên: Đ + T.
- Tổng cách = tổng số nét toàn bộ họ tên, không bao giờ cộng hư số: H + Đ + T.
- Ngoại cách = Tổng cách trừ Nhân cách, cộng 1 khi họ hoặc tên chỉ có một chữ. Với dạng này: T + 1, hay viết cách khác là Tổng cách − Nhân cách + 1.
Ba điều dễ nhầm ngay ở bảng công thức này, nói trước để bạn khỏi mất công tính lại:
- Nhân cách không phải tổng của họ. Nó chỉ lấy chữ cuối của họ, điều này chỉ khác biệt khi gặp họ kép.
- Tổng cách không bao giờ cộng thêm 1. Hư số chỉ xuất hiện ở Thiên cách, Địa cách và kéo theo Ngoại cách.
- Ngoại cách nên tính cuối cùng, sau khi đã có Thiên cách, Địa cách và Nhân cách. Cách an toàn nhất là dùng dạng Thiên cách + Địa cách − Nhân cách, vì công thức này tự động xử lý luôn phần hư số cho mọi độ dài tên.
Ví dụ tính chi tiết một cái tên 3 chữ
Lấy cái tên trung tính và phổ biến nhất: Nguyễn Văn An.
- Quy đổi chữ Hán. Nguyễn là 阮, Văn là 文, An là 安. Cả ba đều là lựa chọn quen thuộc, hầu như không có tranh cãi.
- Lấy số nét Khang Hy. 阮 có 12 nét, 文 có 4 nét, 安 có 6 nét. Vậy H = 12, Đ = 4, T = 6.
- Tính Thiên cách. Họ Nguyễn chỉ có một chữ nên cộng hư số 1: 12 + 1 = 13.
- Tính Nhân cách. Chữ cuối của họ là 阮 (12 nét), chữ đầu của tên là 文 (4 nét): 12 + 4 = 16.
- Tính Địa cách. Phần tên có hai chữ 文 và 安 nên không cộng hư số: 4 + 6 = 10.
- Tính Tổng cách. Cộng hết, không thêm gì: 12 + 4 + 6 = 22.
- Tính Ngoại cách. Lấy Thiên cách cộng Địa cách rồi trừ Nhân cách: 13 + 10 − 16 = 7. Kiểm tra lại bằng công thức kia: Tổng cách trừ Nhân cách rồi cộng 1, tức 22 − 16 + 1 = 7. Khớp.
Vậy bộ ngũ cách của Nguyễn Văn An là Thiên 13, Nhân 16, Địa 10, Ngoại 7, Tổng 22.
Một mẹo kiểm tra nhanh: Thiên cách cộng Địa cách luôn bằng Nhân cách cộng Ngoại cách. Ở đây 13 + 10 = 23 và 16 + 7 = 23. Nếu hai vế không bằng nhau, bạn đã cộng nhầm ở đâu đó.
Khi tên có 2 chữ, 4 chữ hoặc họ kép thì tính thế nào
Công thức gốc không đổi. Chỉ có phần “họ” và phần “tên” được cắt lại cho đúng, và hư số 1 xuất hiện hay không tuỳ vào chỗ nào chỉ có một chữ.
Tên hai chữ: một chữ họ, một chữ tên
Ví dụ Lê Minh, với 黎 15 nét và 明 8 nét.
- Thiên cách: họ đơn nên 15 + 1 = 16.
- Nhân cách: 15 + 8 = 23.
- Địa cách: tên chỉ có một chữ nên cộng hư số: 8 + 1 = 9.
- Tổng cách: 15 + 8 = 23.
- Ngoại cách: 16 + 9 − 23 = 2.
Ở dạng này hư số xuất hiện hai lần, một ở Thiên cách và một ở Địa cách. Đây là lý do Ngoại cách của tên hai chữ thường là một con số rất nhỏ.
Tên bốn chữ: một chữ họ, hai chữ đệm, một chữ tên
Ví dụ Trần Thị Ngọc Anh, với 陳 16 nét, 氏 4 nét, 玉 5 nét, 英 11 nét.
- Thiên cách: họ đơn nên 16 + 1 = 17.
- Nhân cách: chữ cuối của họ là 陳 (16), chữ đầu của tên là 氏 (4): 16 + 4 = 20.
- Địa cách: phần tên gồm ba chữ nên cộng hết, không có hư số: 4 + 5 + 11 = 20.
- Tổng cách: 16 + 4 + 5 + 11 = 36.
- Ngoại cách: 17 + 20 − 20 = 17.
Điểm cần nhớ với tên bốn chữ: toàn bộ phần sau họ đều là “tên”, dù bạn quen gọi “Thị” là chữ đệm. Nhân cách vẫn chỉ lấy chữ đầu tiên của phần đó.
Họ kép: hai chữ họ
Ví dụ Âu Dương Minh, với 歐 15 nét, 陽 17 nét, 明 8 nét. Phần họ gồm hai chữ 歐陽.
- Thiên cách: họ có hai chữ nên không cộng hư số: 15 + 17 = 32.
- Nhân cách: chữ cuối của họ là 陽 (17), chữ đầu của tên là 明 (8): 17 + 8 = 25.
- Địa cách: tên chỉ một chữ nên cộng hư số: 8 + 1 = 9.
- Tổng cách: 15 + 17 + 8 = 40.
- Ngoại cách: 32 + 9 − 25 = 16.
Đây là chỗ công thức “Nhân cách bằng chữ cuối của họ cộng chữ đầu của tên” mới lộ ra tác dụng. Nếu bạn lấy cả 15 + 17 rồi cộng 8, kết quả sai hoàn toàn.
Ở Việt Nam, các họ kép như Tôn Thất, Nguyễn Phúc, Âu Dương đều tính theo cách này.
Quy tắc cộng 1 (hư số) ở Thiên cách và Ngoại cách
Hư số là chỗ sai nhiều nhất khi người ta tự tính, nên gom lại thành một mục riêng.
Hư số là gì. Là con số 1 được cộng thêm để làm đầy một cách khi phần tương ứng chỉ có một chữ. Nó không ứng với nét chữ nào cả, chỉ là một quy ước của hệ thống để cách đó không bị hụt.
Ba quy tắc cần thuộc:
- Thiên cách cộng 1 khi và chỉ khi họ chỉ có một chữ. Họ kép thì không cộng.
- Địa cách cộng 1 khi và chỉ khi phần tên chỉ có một chữ. Tên từ hai chữ trở lên thì không cộng.
- Tổng cách không bao giờ cộng hư số. Nó luôn là tổng số nét thật của toàn bộ họ tên.
Còn Ngoại cách thì thừa hưởng hư số từ hai cách kia. Nếu bạn dùng dạng Thiên cách + Địa cách − Nhân cách, mọi phần cộng 1 đã nằm sẵn trong đó và bạn không phải nghĩ thêm. Nếu bạn dùng dạng Tổng cách − Nhân cách, bạn phải tự nhớ cộng 1 cho mỗi bên đơn chữ — và đó chính là chỗ người ta hay quên.
Nói cách khác: với tên ba chữ họ đơn, Ngoại cách bằng Tổng cách trừ Nhân cách rồi cộng 1. Với tên hai chữ, cộng 2. Với họ kép tên hai chữ trở lên, không cộng gì.
Đây mới chỉ là một trong những lỗi hay gặp. Nếu kết quả của bạn lệch so với một trang khác, bài 7 lỗi thường gặp khiến bạn tính sai ngũ cách liệt kê đủ những chỗ cần soi lại.
Đối chiếu kết quả với bảng 81 linh số
Có năm con số rồi, bước cuối là tra chúng vào bảng 81 linh số — tám mươi mốt con số, mỗi số một lời đoán, chia bốn mức: đại cát, cát, bán cát bán hung và hung.
Quy tắc rút gọn. Bảng chỉ có 81 số, nên nếu một cách ra kết quả lớn hơn 81 thì trừ đi 80 rồi mới tra. Ví dụ Tổng cách 85 thì tra số 5; Tổng cách 92 thì tra số 12. Trường hợp này hiếm với tên Việt, chủ yếu gặp ở tên bốn chữ trở lên mà các chữ đều nhiều nét.
Thứ tự đọc. Đọc Nhân cách trước, vì đó là trục chính của tính cách. Rồi tới Tổng cách, gắn với bức tranh cả đời và giai đoạn hậu vận. Địa cách, Ngoại cách và Thiên cách đọc sau.
Vị trí quan trọng hơn con số. Cùng một số thuộc nhóm hung, nằm ở Ngoại cách thì ảnh hưởng nhẹ, chủ yếu liên quan tới chuyện giao tiếp; nằm ở Nhân cách hay Tổng cách mới đáng để cân nhắc. Đừng đếm đầu số cát rồi kết luận.
Trong ví dụ Nguyễn Văn An ở trên, bộ số 13 – 16 – 10 – 7 – 22 có cả số thuộc nhóm tốt lẫn số thuộc nhóm cần lưu ý. Đó là tình trạng bình thường của hầu hết mọi cái tên, và một con số ở nhóm hung không đóng lại con đường nào — nó chỉ chỉ ra chỗ nên để ý hơn. Cách đọc từng nhóm số được viết kỹ trong bài bảng 81 linh số trong ngũ cách với cát, hung và cách đọc đúng một con số.
Cũng nên nhớ: đây là một hệ thống tham khảo mang tính văn hoá, không phải phương pháp khoa học kiểm chứng được. Nó hữu ích như một cái khung để suy nghĩ, không phải như một phán quyết.
Tự tính tay hay dùng công cụ
Tính tay có cái hay của nó. Bạn thấy rõ từng phép cộng, hiểu vì sao Ngoại cách lại ra con số đó, và không bị phụ thuộc vào một hộp đen nào. Với một cái tên ba chữ, toàn bộ việc cộng mất chưa tới hai phút.
Nhưng rủi ro của tính tay không nằm ở phép cộng. Nó nằm ở hai bước đầu:
- Chọn nhầm chữ Hán cho một âm có nhiều chữ đồng âm.
- Lấy nhầm số nét, đặc biệt khi chữ có bộ thủ viết rút gọn, hoặc khi bạn vô tình tra trúng bản giản thể.
Sai một trong hai chỗ đó là cả năm con số sai, mà nhìn vào kết quả thì không thể biết là đã sai.
Vì vậy hướng thực tế nhất là: để công cụ lo phần quy đổi và đếm nét, còn bạn giữ phần chọn chữ và phần đọc kết quả. Công cụ ngũ cách trên Thần Số Tử Vi làm đúng phần đó — tra chữ Hán, lấy số nét Khang Hy và cộng ra năm cách — nhưng chữ Hán nào hợp với nghĩa bạn muốn gửi vào cái tên thì vẫn là quyết định của bạn.
Và dù tính bằng cách nào, hãy giữ lại danh sách chữ Hán bạn đã chọn. Đó là thứ duy nhất bảo đảm lần sau tra lại vẫn ra đúng bộ số cũ.